Xuất khẩu Than đá, than hoạt tính

Xuất khẩu Than đá

Than đá là loại nhiên liệu được sử dụng phổ biến trong các ngành công nghiệp, đặc biệt là sử dụng cho Nồi hơi. Than hay các loại nhiên liệu rắn khác có những đặc tính cần thiết để có thể phân biệt thành các loại than tốt, than xấu, than dễ cháy, khó cháy, có nhiệt lượng cao, nhiệt lượng thấp v.v. Để có thể hiểu được đặc điểm của than ta có các đặc tính sau.

Thành phần hoá học của than.
Trong than, các nguyên tố cấu thành bao gồm các thành phần sau:
Cacbon . Cacbon là thành phần cháy chủ yếu trong nhiên liệu rắn , nhiệt lượng phát ra khi cháy của 1 kg cacbon gọi là nhiệt trị của cacbon, khoảng 34.150 kj/kg. Vì vậy lượng cacbon trong nhiên liệu càng nhiều thì nhiệt trị của nhiên liệu càng cao. Tuổi hình thành nhiên liệu càng già thì thành phần cacbon càng cao, song khi ấy độ liên kết của than càng lớn nên than càng khó cháy.

Hyđrô . Hydro là thành phần cháy quan trọng của nhiên liệu rắn, khi cháy toả ra nhiệt lượng 144.500 kj/kg. Nhưng lượng hyđrô có trong thiên nhiên rất ít. Trong nhiên liệu lỏng hyđrô có nhiều hơn trong nhiên liệu rắn.

Lưu huỳnh. Lưu huỳnh là thành phần cháy trong nhiên liệu. Trong than lưu huỳnh tồn tại dưới ba dạng: liên kết hữu cơ Shc, khoáng chất Sk, liên kết sunfat Ss.Lưu huỳnh hữu cơ và khoáng chất có thể tham gia quá trình cháy gọi là lưu huỳnh cháy Sc. Còn lưu huỳnh sunfat thường nằm dưới dạng CaSO4, MgSO4 , FeSO4 .., những liên kết này không tham gia quá trình cháy mà chuyển thành tro của nhiên liệu.

Vì vậy: S = Shc + Sk + Ss , % = Sc + Ss , %

Lưu huỳnh nằm trong nhiên liệu rắn ít hơn trong nhiên liệu lỏng.
Nhiệt trị của lưu huỳnh bằng khoảng 1/3 nhiệt trị của cacbon. Khi cháy lưu huỳnh sẽ tạo ra khí SO2 hoặc SO3 . Lúc gặp hơi nước SO3 dễ hoà tan tạo ra axit H2SO4 gây ăn mòn kim loại. Khí SO2 thải ra ngoài là khí độc nguy hiểm vì vậy lưu huỳnh là nguyên tố có hại của nhiên liệu.
Oxy và Nitơ . Oxy và Nitơ là những chất trơ trong nhiên liệu rắn và lỏng. Sự có mặt của oxyvà nitơ làm giảm thành phần cháy của nhiên liệu làm cho nhiệt trị của nhiên liệu giảm xuống. Nhiên liệu càng non thì oxy càng nhiều. Khi đốt nhiên liệu, nitơ không tham gia quá trình cháy chuyển thành dạng tự do ở trong khói.

Tro, xỉ (A): Là thành phần còn lại sau khi nhiên liệu được cháy kiệt.
Độ ẩm (M): Là thành phần nước có trong nhiên liệu thường được bốc hơi vào giai đoạn đầu của quá trình cháy.
Như vậy, về thành phần hoá học của nhiên liệu thì ta có các thành phần sau: C, H, O, N, S, A, M và có thể được thể hiện bằng thành phần phần trăm
C+ H + O + N + S + A + M = 100%.

Thành phần công nghệ của than.
Ngoài thành phần hoá học, người ta còn đánh giá đặc tính của than dựa trên thành phần công nghệ. Các thành phần công nghệ sử dụng để đánh giá than bao gồm độ ẩm, hàm lượng cốc, hàm lượng chất bốc, hàm lượng tro, nhiệt trị nhiên liệu.
Độ ẩm trong than “M”

Độ ẩm của than là hàm lượng nước chứa trong than. Độ ẩm toàn phần của than được xác định bằng cách sấy nhiên liệu trong tủ sấy ở nhiệt độ 1050 C cho đến khi trọng lượng nhiên liệu không thay đổi. Phần trọng lượng mất đi gọi là độ ẩm nhiên liệu. Thực ra ở nhiệt độ 1050 C chưa đủ để thải hoàn toàn độ ẩm ra khỏi nhiên liệu vì một số loại độ ẩm trong như ẩm tinh thể, thường phải ở nhiệt độ 500- 8000 C mới thóat ra ngoài được.
Độ tro trong than “A”

Các vật chất ở dạng khoáng chất trong than khi cháy biến thành tro, Sự có mặt của chúng làm giảm thành phần cháy nghĩa là làm giảm nhiệt trị của than. Tỷ lệ tro trong than ảnh hưởng rất lớn đến tính chất cháy của than như: giảm nhiệt trị của than,gây nên mài mòn bề mặt ống hấp thụ nhiệt,bám bẩn làm giảm hệ số truyền nhiệt qua vách ống,...Ngoài ra một đặc tính quan trọng nữa của tro ảnh hưởng lớn đến quá trình làm việc của thiết bị cháy là độ nóng chảy của tro.

Độ tro của nhiên liệu được xác định bằng cách đem mẫu nhiên liệu đốt đến 800- 8500 C đối với nhiên liệu rắn, 5000 C đối với nhiên liệu lỏng cho đến khi trọng lượng còn lại không thay đổi. Phần trọng lượng không thay đổi đó tính bằng phần trăm gọi là độ tro của nhiên liệu. Độ tro của madut vào khoảng 0,2- 0,3%, của gỗ vào khoảng 0,5 – 1%, của than antraxitcó thể lên tới 15 – 30% hoặc cao hơn nữa.

Một trong những đặc tính quan trọng làm ảnh hưởng đến điều kiện làm việc trong lò hơi là độ nóng chảy của tro.
Chất Bốc của than (V )
Khi đem đốt nóng nhiên liệu trong điều kiện môi trường không có Ôxy thì mối liên kết các phân tử hữu cơ bị phân huỷ. Quá trình đó gọi là quá trình phân huỷ nhiệt. Sản phẩm của phân huỷ nhiệt là những chất khí được gọi là "Chất bốc" và kí hiệu là VC %, bao gồm những khí Hydro, Cacbuahydro, Cacbonoxit, Cacbonic.

Những liên kết có nhiều Oxy là những liên kết ít bền vững dễ bị phá vỡ ở nhiệt độ cao, vì vậy than càng non tuổi bao nhiêu thì chất bốc càng nhiều bấy nhiêu, than bùn (V=70%), than đá (V=10-45)%, than antraxit (V=2-9) %.

Nhiệt độ bắt đầu sinh ra chất bốc phụ thuộc vào tuổi hình thành của than, than càng non tuổi thì nhiệt độ bắt đầu sinh chất bốc càng thấp. Lượng chất bốc sinh ra còn phụ thuộc vào thời gian phân huỷ nhiệt.

Theo tiêu chuẩn ASTMD388 thì Chất bốc của than thành phần bay hơi của than đã trừ đi độ ẩm khi mẫu than được đốt nóng trong chén có nắp đậy kín (không đưa không khí vào) ,ở nhiệt độ 800-820OC trong thời gian 7 phút, và được kí hiệu là V (%).

Chất bốc của than có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình cháy than, chất bốc càng nhiều bao nhiêu thì than càng xốp, dễ bắt lửa và cháy kiệt bấy nhiêu. Vì vậy khi cháy than ít chất bốc như than Antraxit của Việt nam thì cần phải có biện pháp kĩ thuật thích hợp.

Thành phần cốc trong than (FC )
Chất rắn còn lại (đã trừ đi độ tro) của than sau khi bốc hết chất bốc thì được gọi là cốc của than. Cốc là thành phần chất cháy chủ yếu của than. Tính chất của cốc phụ thuộc vào tính chất của các mối liên hệ hữu cơ có trong các thành phần chaý. Nếu cốc ở dạng cục thì gọi là than thiêu kết ( than mỡ, than béo ), nếu cốc ở dạng bột thì gọi là than không thiêu kết (than đá ,than antraxit ). Than có nhiều chất bốc thì cốc càng xồp,thancàng có khả năng phẩn ứng cao, Các bon không những dễ bị Oxy hoá mà còn dễ bị hoàn nguyên khí CO2 thành khí CO. Than gầy và than Antrxit không không cho cốc xốp khi cháy, cho nên chúng là loại than khó chaý. Tuỳ thuộc khả năng thiêu kết của than mà than có màu sắc khác nhau. Than không thiêu kết có màu xám, than ít thiêu kết có màu ánh kim loại.

Độ cứng của than phụ thuộc vào độ xốp của cốc, than càng xốp thì độ bền càng bé than càng dễ nghiền.

Nhiệt trị của than.
Nhiệt trị của than là nhiệt lượng phát ra khi cháy hoàn toàn 1 kg than đựoc kí hiệu bằng chữ Q (Kj/kg). Nhiệt trị của than được phân thành Nhiệt trị cao và nhiệt trị thấp.

Xác đinh nhiệt trị bằng thực nghiệm được tiến hành bằng cách đo trực tiếp lượng nhiệt sinh ra khi đốt cháy một lượng nhiên liệu nhất định trong “ Bom nhiệt lượng kế”. Bom nhiệt lượng kế là một bình bằng thép trong chứa oxy ở áp suất 2,5 – 3,0 MN/m2. Bom được đặt trong một thùng nhỏ chứa nước ngập đền toàn bộ bom gọi là “bình nhiệt lượng kế”. Nhiệt lượng toả ra khi cháy nhiên liệu dùng để đun nóng khối lượng nước này. Người ta đo được nhiệt độ của nước nóng và suy ra nhiệt trị của nhiên liệu. Để hạn chế ảnh hưởng do toả nhiệt ra môi trường xung quanh, người ta thường đặt bình nhiệt lượng kế vào một thùng khác có hai vỏ và chứa đầy nước, đảm bảo cho không gian xung quanh nhiệt lượng kế có nhiệt độ đồng đều. Phương pháp xác định nhiệt trị bằng tính toán dựa trên cơ sở tính nhiệt lượng toả ra khi cháy từng thành phần nguyên tố của nhiên liệu. Như vậy để tính chính xác nhiệt trị cần phải xác định chính xác, cũng như ảnh hưởng của hiệu ứng nhiệt sinh ra kèm theo các phản ứng cháy.

Song trong sản phẩm cháy có hơi nước nếu như hơi nước đó ngưng đọng lại thành nước thì nó còn toả thêm một lượng nhiệt nữa. Nhiệt trị cao của nhiên liệu chính là nhiệt trị có kể đến phần lượng nhiệt thêm đó.

Dù bị coi là nguồn năng lượng gây ô nhiễm nhất, tạo ra đến 44 % khí carbon nhưng lại rẻ cho nên than đá đang trở thành nguồn năng lượng hàng đầu của thế giới. Nhu cầu tiêu thụ sẽ tăng thêm 25 % từ nay đến cuối năm 2020. Thảm họa nhà máy điện hạt nhân Fukushima vô hình chung đã giúp cho công nghiệp than đá thực sự hồi sinh.

Vào lúc hội nghị quốc tế về biến đổi khí hậu đang diễn ra tại Vacxava với sự tham dự của 190 quốc gia trên thế giới, thì cùng lúc, cũng tại thủ đô Ba Lan, Hiệp hội Than đá Thế giới WCA tổ chức hội nghị trong hai ngày 18 và 19/11/2013.

Sự trùng hợp đó bị giới bảo vệ môi trường coi là một hành động khiêu khích khi biết rằng than đá là nguồn thải khí CO2 nghiêm trọng nhất, làm hâm nóng trái đất. Tuy vậy, không phải tình cờ mà hội nghị của các nhà sản xuất và tiêu thụ than đá lại được tổ chức ngay tại Ba Lan : Ba Lan sản xuất 90% lượng điện từ các nhà máy chạy bằng than.

Theo tổ chức WCA, 41 % lượng điện của thế giới được sản xuất từ than đá. Còn theo Tổ chức Năng lượng Quốc tế, nhu cầu tiêu thụ của toàn cầu đối với nguyên liệu này sẽ tăng thêm ít nhất là 17 % vào năm 2035. Từ nhiều năm qua Trung Quốc và Ấn Độ là hai động cơ chính kéo ngành công nghệ than đi lên.

Thế nhưng gần đây, đã có thêm nhiều quốc gia đang trông chờ vào nguồn năng lượng này để phát triển kinh tế. Điển hình là Đức : Berlin đang trên đường từ bỏ điện hạt nhân, do vậy Đức bắt buộc phải đẩy mạnh các nhà máy điện sử dụng than đá.

Mỏ than và chính sách năng lượng của Đức
Hiện tại đã có 8 trên tổng số 17 nhà máy điện hạt nhân ở Đức đã đóng cửa. Berlin tuy đã đẩy mạnh các chương trình phát triển năng lượng tái tạo, nhưng các nguồn năng lượng gió và năng lượng mặt trời (tương đương với 25 % nhu cầu chung về năng lượng của toàn quốc) chưa đủ sức để đáp ứng nhu cầu điện lực của một cường quốc công nghiệp như Đức. 45 % năng lượng điện của Đức đến từ than đá.

Chính vì vậy mà chính phủ Đức đang ráo riết đẩy mạnh các dự án khai thác mỏ than. Cụ thể hơn là mỏ Garzweiler gần thành phố Köln, miền tây nước Đức. Đây là một mỏ than lộ thiên, được dự trù hoạt động ít nhất là đến năm 2045. Tại đây mỗi ngày 350.000 m3 than đá được cho ra lò. Năm ngoái, bang Nordrhein-Westfalen sản xuất hơn 100 tấn triệu tấn than. Tuy nhiên dự án khai thác mỏ Garzweiler đã chịu nhiều chỉ trích, người dân địa phương phải trả giá đắt.

Theo tường thuật của thông tín viên đài RFI tại Đức, Pascal Thibaut, các ngôi làng chung quanh mỏ than nói trên đang trở thành những ngôi làng ma. Nhà cửa bị bỏ hoang, đổ nát. Hầu hết dân chúng trong vùng đã di tản đi nơi khác. Chỉ còn lại một vài người cố trụ lại.
Một vài chiếc xe đỗ bên vệ đường, cho thấy ngôi làng đó vẫn có người ở nhưng một ông nông nói với thông tín viên RFI ông trồng khoai rồi thì biết bán cho ai đây.

Ở cuối làng là những chiếc máy khổng lồ đang nhả than hút lên từ lòng đất. Những đoàn xe tải nối đuôi nhau để chuyển khối than đó về nhà máy điện gần sát cạnh mỏ Garzweiler.

Vấn đề đặt ra là cứ mỗi tấn than được khai thác như vậy để phục vụ cho chu cầu điện lực thì lại tạo ra một tấn khí thải carbon. Băn khoan về tác động đối với môi trường không chỉ được người dân địa phương quan tâm mà đó còn là trăn trở của nhiều nhà bảo vệ môi trường khác tại Đức. Như là trường hợp của Astride đang đấu tranh chống lại một dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện tại Hambourg miền Bắc nước Đức. Chính quyền muốn xóa sổ một công viên của thành phố để xây dựng nhà máy. Astride cho biết:

« Đối với tôi và những nhà bảo vệ môi trường khác, bảo vệ khu công viên này đồng nghĩa với việc hoãn lại dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện chạy bằng than. Câu hỏi đặt ra là Đức muốn gì ? Phải chăng là nước Đức đang muốn thải ra thêm mỗi năm 9 triệu tấn carbon. Thải ra thêm 9 tấn CO2 hay tránh được điều đó : đứng về phương diện môi trường thì khác biệt rất quan trọng ».

Còn nhìn từ góc độ của tập đoàn khai thác than RWE thì khác. Điều quan trọng ở đây là Đức cần xây dựng những nhà máy nhiệt điện đời mới, ít gây ô nhiềm hơn :
« Hãy nhìn vào thực tế : ngành năng lượng hạt ngân đang bị khai tử. Hơn thế nữa nhiều nhà máy nhiệt điện than đá đang sắp phải đóng cửa. Đức bắt buộc phải xây dựng hàng loạt các cơ sở mới để hỗ trợ cho các nguồn năng lượng tái tạo ».
Tổ chức bảo vệ môi trường Greenpeace không hề tin vào các nhà máy sử dụng « than sạch » :
« Thực ra tất cả những lập luận cho rằng thế hệ các nhà máy chạy bằng than đang được hình thành sẽ ít gây ô nhiễm cho môi trường đều là một sự lừa đảo, để trấn an dư luận mà thôi. Cần biết rằng, một nhà máy điện lực sử dụng than đá sẽ hoạt động trong vòng ít nhất là 50 năm. Điều đó có nghĩa là trong nửa thế kỷ nữa chúng ta sẽ sống trong một môi trường ô nhiễm. Tôi nghĩ rằng chúng ta nên tập trung nỗ lực để phát huy các nhà máy điện lực chạy bằng ga hay là phát triển năng lượng gió thì hơn ».
Đối với chính quyền bang Nordrhein-Westfalen, nơi mà hầu hết các mỏ than khác đã bị đóng cửa thì riêng mỏ Garzweiler được coi như là một ngõ thoát. Bài toán đặt ra là phải lựa chọn giữa một bên là phát triển công nghiệp khai thác than đá để tạo công việc làm cho người dân, và bên kia là mục tiêu bảo vệ môi trường.

Tính từ năm 1990 đến 20111, Đức đã giảm được 25 % lượng thải khí CO2 thế nhưng kể từ khi thủ tướng Merkel thông báo từng bước đóng cửa các nhà máy điện hạt nhân, thì lượng khí carbon mà Đức thải ra vào năm 2012 đã tăng thêm 1,6 % so với năm 2011. Năm ngoái nhập khẩu than đá của Đức cũng đã tăng hơn 20 % !

Theo nghiên cứu của tổ chức bảo vệ y tế và môi truờng HEAL trụ sở tại Bruxelles – Bỉ, thải khí carbon từ các nhà máy nhiện điện sủ dụng than đá là nguyên nhân gây tử vong cho 20.000 người trong Liên Hiệp Châu  u hàng năm.
Đức đã vậy còn những nơi khác thì sao ?

Nếu như tại Đức năng lượng than phải tuân thủ một số các chuẩn mực về môi trường và an toàn, thì ngược lại tại hai quốc gia hiện đang tiêu thụ than nhiều nhất trên thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ, không mấy ai quan tâm đến những vấn đề đó.
Tại Jharia, miền đông bắc Ấn Độ, một dân cư sống sát cạnh một mỏ than, gia đình ông lúc nào cũng bị hun khói và có cảm tưởng như sống trên một cái lò lửa khổng lồ. Ông cho biết :

« Từ nhiều thế hệ qua gia đình tôi sinh sống và làm việc tại mỏ than này. Lửa cháy ngày đêm. Nhất là khi đêm về, lửa cháy sáng tới nỗi chúng tôi tưởng như là ban ngày. Khi nào lửa bùng lên lớn quá, thì gia đình tôi phải di tản. Hãy nhìn kìa, ngọn lửa đằng kia đang cháy lớn. Ở đây đã có rất nhiều người chết cháy, số khác thì bệnh hoạn vì hít thở quá nhiều khí độc. Chẳng có một ai tới đây kiểm tra về chất lượng không khí, về các điều kiện vệ sinh và an toàn gì cả ».

60 % dân cư chung quanh mỏ than ở Jharia bị bệnh về đường hô hấp do khí thải carbon và bụi bậm. Mãi tới gần đây chính phủ mới thông báo dự trù di tản 400.000 người trong vòng 2 thập niên sắp tới.

Từ năm 2000 tới nay, sản lượng than đá của Ấn Độ đã tăng thêm 45 %. Để so sanh thì sản xuất của Trung Quốc đã được nhân lên gấp đôi trong cùng thời kỳ.

Mông Cổ, nguồn cung cấp của Trung Quốc
Trung Quốc vừa là nguồn sản xuất, vừa là nguồn tiêu thụ than đá số 1 của thế giới. Gần một nửa lượng than sản xuất ra trên toàn cầu chỉ để phục vụ ông khổng lồ châu Á này. Mông Cổ là một trong những nguồn cung cấp than đá quan trọng nhất của Trung Quốc.

Với một diện tích rộng gấp 3 lần nước Pháp, Mông Cổ có một lượng dự trữ than đủ để cung ứng cho nước láng giềng Trung Quốc trong trong 50 năm tới. Than đá chiếm đến 80 % tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia này và cũng nhờ vào nguồn nguyên liệu đó mà GDP của Mông Cổ tăng 15 % vào năm 2012. Khu vực khai thác lớn nhất là Oyu Tolgoi nằm trong vùng sa mạc Gobi, cách thủ đô Oulan Bator khoảng 1 giờ bay là địa điểm đã được rất nhiều các doanh nhân Trung Quốc tới thăm viếng trong những năm gần đây.

Ngoài ra thì vùng Talvan Tolgoi – 5 ngọn đồi - còn được coi là nơi sản xuất than có chất lượng cao nhất thế giới. Cách nay hai năm chính quyền Oulan Bator cho phép một liên doanh Mông Cổ- Nga cùng khai thác. Giám đốc điều hành nhà máy này cho biết :
« Năm ngoái chúng tôi sản xuất một triệu tấn than đá, năm nay khối lượng đó được nhân lên gấp ba và chỉ tiêu đặt ra cho năm 2014 là sáu triệu tấn. Chúng tôi kinh doanh rất tốt. Khách hàng quan trọng nhất là Trung Quốc. Mông Cổ xuất khẩu than đá sang Trung Quốc để đổi lấy lương thực và vật liệu xây dựng. »

Mặt trái của chiếc mề đay
Đối với người dân địa phương, tìm được một việc làm nhờ ngành khai thác khoáng mỏ là chìa khóa giúp họ thoát khỏi cảnh đói nghèo. Thế nhưng đối với những thành phần sống nhờ chăn nuôi, thì họ đang trông thấy những vùng thảo nguyên mênh mông của Mông Cổ bị tàn phá để phục vụ cho mục tiêu công nghiệp. Một nhà chăn nuôi mô tả về những thay đổi trên quê ông kể từ khi các tập đoàn khai thác than đá đến hoạt động :
« Ngày càng có nhiều xe vận tải đến đào phá đường đất, họ phá hủy hết tất cả các vùng thảo nguyên của chúng tôi. Chúng tôi không còn đất để chăn nuôi. Trước khi mà các hoạt động khai thác than đá ở đây được phát triển thì đã có nhiều nhà chăn nuôi sống trong vùng.

Bây giờ họ chuyển đi nơi khác hết cả vì không còn đất để sống. Đáng quan ngại hơn cả là khi mà các tập đoàn Trung Quốc đến đây làm ăn, họ đem theo nhân công Trung Quốc. Lương công nhân Trung Quốc rẻ hơn nhiều so với lương trả cho người dân Mông Cổ. Hậu quả là đất của chúng tôi thì bị trưng thu, khai thác, mà công nghệ than đá đó không hề đem lại việc làm cho người dân Mông Cổ, không hề cho phép kinh tế của chúng tôi phát triển hay tạo việc làm cho chúng tôi ».

Đáng quan ngại hơn là ngoài Trung Quốc thì Ấn Độ cũng đang trở thành một nhà vô địch trong lĩnh vực nhập khẩu than đá. Đến năm 2017 Ấn Độ sẽ qua mặt Hoa Kỳ để trở thành nhà tiêu thụ than số 2 của thế giới, chỉ sau có Trung Quốc.

Trong báo cáo gần đây cơ quan tư vấn Wood Mackenzie chuyên về năng lượng và khoáng mỏ của Mỹ cho rằng nhu cầu than đá của thế giới trong thập niên này sẽ tăng lên thêm 25 %. Từng bước than đá sẽ trở thành nguồn nguyên liệu số 1, đứng trước cả dầu hỏa và năng lượng hạt nhân. Hiện tại 2/3 tăng trưởng của ngành than đá có được là nhờ mức nhập khẩu của Trung Quốc. Trong thời gian từ 2012 đến 2012, một nửa các nhà máy điện được xây dựng tại Trung Quốc đều sử dụng than.

Trong báo cáo thường niên vừa được công bố ngày 12/11/2013 Tổ chức Năng lượng Thế giới dự báo nhu cầu than của nhân loại sẽ tăng thêm 17 % trong 20 năm nữa và đây sẽ là nguyên nhân khiến nhiệt độ của trái đất tăng thêm 3,6 °C. Chỉ rong chưa đầy một thập niên nữa, than đá sẽ là nguồn nguyên liệu được sử dụng nhiều nhất, trước cả dầu hỏa và khí đốt.

VINANET) Xuất khẩu than đá tháng đầu năm 2014 đạt khoảng 978.158 tấn, giảm 32,76% so với tháng 12-2013 và giảm 18,8% so với tháng 1-2013; trị giá xuất khẩu là 71,08 triệu USD, giảm lần lượt là 29,3% và 12,2%.

Xuất khẩu than đá của Việt Nam trong tháng 1-2014 chủ yếu sang 3 thị trường chính: Trung Quốc với 777.359 tấn, đạt 50,43 triệu USD; Nhật Bản với 118.426 tấn, đạt 12,93 triệu USD; Hàn Quốc với 56.102 tấn, đạt 4,38 triệu USD. Tính chung, lượng than đá xuất khẩu sang 3 thị trường này chiếm 97,3% tổng lượng than đá xuất khẩu của cả nước.

Trung Quốc - thị trường chủ đạo của xuất khẩu than đá Việt Nam, chiếm tới 79,5% về lượng và chiếm 71% về kim ngạch xuất khẩu than của Việt Nam, trong tháng đầu năm nay xuất khẩu giảm 36,11% về lượng và giảm 33,63% về kim ngạch so với tháng cuối năm ngoái.

Nhìn chung các thị trường xuất khẩu than tháng đầu nă nay đều bị sụt giảm cả về lượng và kim ngạch so với tháng trước đó: xuất sang Nhật Bản (tăng 1,39% về lượng nhưng tăng nhẹ 4,91% về kim ngạch); sang Hàn Quốc (giảm 34,83% về lượng và 32,88% về kim ngạch); Lào (giảm trên 29% cả về lượng và kim ngạch); Malaysia (tăng 2,23% về lượng nhưng giảm 24,76% về kim ngạch).
Riêng xuất khẩu sang thị trường Indonesia tuy rất ít nhưng lại tăng cả về lượng và kim ngạch với mức tăng 6,14% và 3,63%.
 
 
 
DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN THAN TRẦN QUỲNH

Địa chỉ: D15/T24, Đường Võ Văn Vân, Ấp 4, Vĩnh Lộc B, Q.Bình Chánh, TP HCM
Hotline:
than tổ ong liên hệ:0984 909 705
than hoạt tính liên hệ 0984 909 705

Website: thantranquynh.com , than tổ ong | than củi xuất khẩu